Esperer-isshoni.info

École de la Terre Pure - un texte vietnamien sur l’accompagnement des mourants (vietnamien - français)

jeudi 10 avril 2014 par Phap

Table des matières

Cẩn Thận Lúc Lâm Chung- Précautions à prendre pendant les derniers moments


Suite à notre voyage au Vietnam, nous avons rapporté le livret suivant, écrit par Thích Trí Thủ :

Il nous a semblé intéressant d’en faire traduire les pages suivantes, qui reflètent la pratique populaire de dévotion au Bouddha à un moment fort, celui de l’agonie d’un proche.

Bien noter :

  • nous nous intéressons uniquement à l’aspect religieux, et nous n’entrerons pas dans les questions d’ordre politique concernant les deux sangha du Vietnam  [1] ;
  • les pages qui suivent supposent de connaître le bouddhisme en général et le bouddhisme de la Terre Pure en particulier.
  • Il est intéressant de noter les parallèles avec la pratique tibétaine : état intermédiaire, consigne de calme, indication sur la future destinée, injonction de ne pas toucher le corps (8 heures et non pas 3 jours comme dans la pratique tibétaine).
  • Voir aussi les échos avec le bouddhisme de la Terre Pure au Japon : désir de renaître dans la Terre Pure du Bouddha, référence implicite au vœu d’Amida d’apparaître au défunt, pensée / invocation du Bouddha Amida.

Il nous est agréable de remercier les personnes qui nous ont aidé : Jérôme, Nhon et Hông.
Nous assumons personnellement les erreurs, les manques et autres imperfections de ce texte.


esperer-isshoni.fr, décembre 2010
esperer-isshoni.info, avril 2014


Tiết Thứ 5

Cẩn Thận Lúc Lâm Chung

  [2]

Chapitre 5

Précautions à prendre pendant les derniers moments

  [3]

1. [p. 77] Trong sự chuyển tiếp từ kiếp nọ sang kiếp kia, cái niệm chót (nhất niệm tối hậu) có một lực lượng mãnh liệt quyết định cho việc chuyển sanh. Vì lý do đó nên lúc lâm chung, người tu hành phải làm thế nào để chỉ còn nhớ Phật, niệm Phật thì chắc chắn sẽ sanh về cõi Phật.

2. Kinh “Phật Thuyết A Di Đà” dạy rằng : “Nếu người nào niệm Phật trong bảy ngày được nhất tâm bất loạn, lúc lâm chung, có Phật và Thánh chúng hiện ra trước mặt, người ấy tâm không còn điên đảo và liền được vãng sanh”.

3. Nhất tâm bất loạn nghĩa là ngoài sự nhớ Phật, tưởng Phật, không có một vọng niệm nào xen lẫn ở trong lòng : lòng mình và lòng Phật đã xứng hợp làm một.

4. Kinh văn đã dạy rõ ràng như thế, đương nhiên tuyệt đối chúng ta phải tin. Có e ngại chăng là e ngại tịnh nghiệp tu chưa tin tấn nên phút lâm chung, tâm còn điên đảo khiến khó thấy được Phật tiếp dẫn. Tâm còn điên đảo thì cũng khó mà vãng sanh. Vì vậy, trong khi gần lâm chung rất cần có người hai bên trợ niệm. Có kẻ trợ niệm mới dẫn [p. 78] phát được tâm người bệnh niệm Phật. Lý do cần thiết lập các ban hộ niệm là thế.

5. Hiện tại ở các khuôn hội đều có thiết lập Ban hộ niệm. Bất luận trai gái già trẻ, là Phật tử, ai ai cũng nên gia nhập vào ban ấy càng đông càng tốt. Hễ khi nào gặp một bệnh nhân lâm nguy, trong ban nên cắt phiên thay nhau đến nơi phòng người bệnh, đốt hương niệm Phật. Như vậy, mắt trông thấy tượng Phật, tai nghe tiếng niệm Phật, mũi ngửi mùi hương thơm từ bàn Phật xông ra, người bệnh có đủ duyên sanh khởi tịnh niệm, rất hữu ích cho sự vãng sanh Tịnh độ.

6. Nay xin đem những biện pháp của người tu hành cần gìn giữ trong phút lâm chung, sơ lược giải bày như sau, để các ban hộ niệm y cứ hành trì. Mong rằng các đạo hữu lưu ý, công đức sẽ vô lượng, vì nó quyết định cho tương lai của cả một đời tu hành.
[p. 77] Dans le cycle (mot-à-mot : passage) de vies et de morts, la dernière prière (nhất niệm tối hậu) a une force décisive et primordiale pour le transfert de cette vie à une autre [dans une autre destinée]. C’est ainsi que le disciple du Bouddha Phật, au moment de sa mort, doit faire en sorte de concentrer sa pensée uniquement au Bouddha et [il ne fait que] le prier, afin d’être certain de naître la prochaine fois dans le royaume de Bouddha.

Le livre des « Prédications du Bouddha Amida » (Phật thuyết A Di Đà) dit la chose suivante : « Si une personne prie sept jours durant avec un cœur paisible (nhất tâm bất loạn  ), alors il n’y alors plus d’autres désirs [pensées] en dehors de la pensée concentrée sur le Bouddha et la foi en lui, l’ esprit de la personne fusionne avec celui du Bouddha, et au moment de quitter ce monde, si elle voit le Bouddha et les Bodhisattva apparaître devant elle, son cœur n’a plus de trouble, et elle sera dans le royaume de Bouddha (vãng sanh). »

Par contre, si au moment de quitter ce monde, l’esprit du mourant est encore perturbé, agité ou inquiet, il lui sera difficile de percevoir la venue du Bouddha pour l’accueillir dans son royaume. Tant que son cœur est encore agité, il lui sera difficile d’entrer dans le royaume de Bouddha. Aussi est-il nécessaire de se faire aider dans ses prières au moment de sa mort pour que le cœur du malade soit concentré sur le Bouddha.

C’est la raison par laquelle, il est nécessaire de créer des confréries de veillées mortuaires. Actuellement, ces confréries se trouvent partout dans le pays et composées de tout âge et de deux sexes. Ces bénévoles assistent les mourants en brûlant des baguettes d’encens et en priant.

Ainsi environné, sentant le parfum de l’encens, voyant la statue du Bouddha et entendant les prières, le mourant perçoit la présence du Bouddha, et il a de plus grandes chances de renaître dans le royaume de Bouddha.
a) Lúc bệnh nặng sắp lâm chung :

7. Khi có một đạo hữu nào bệnh nặng sắp lâm chung, thân thuộc nên tin cho ban hộ niệm và mời đến nhà hộ niệm. Nếu tinh thần người bệnh còn tỉnh táo, ban hộ niệm nên nhất thiết khuyên thân thuộc đừng khóc lóc và cũng đừng đem việc nhà ra nói với người bệnh làm gì nữa. Khóc lóc hay hỏi về việc nhà lúc ấy không giải quyết được gì hết mà chỉ [p. 79] khiến cho người bệnh sanh khởi niệm luyến tiếc việc đời một cách vô ích.

8. Nên khuyến khích bệnh nhân đem tâm phóng xả tất cả, chỉ nhớ Phật và niệm Phật mà thôi. Nên nói với bệnh nhân rằng : “Thế giới Cực Lạc rất là an vui sung sướng. Nay ngươi nên xả bỏ tất cả, nguyện sanh về thế giới kia. Được sanh về đấy sẽ không còn có hạnh phúc nào bằng. Hiện tại sở dĩ bị bệnh hoạn đau đớn là do ác nghiệp nhiều kiếp tích lũy gây nên. Tạm thời nên chịu khó nhẫn nại”. 9. Nếu thảng hoặc bệnh nhân có việc gì khổ tâm lắm, nhất đáng không thể xả bỏ được, nên tìm mọi phương tiện thuyết pháp giải trừ. Hoặc dùng lời dịu ngọt vui vẻ để khuyến khích an ủi, hoặc đem bao nhiêu điều hay việc tốt, hay công đức tu hành mà bình sanh người ấy đã làm để tán thán ngợi khen. Các phương tiện ấy sẽ có công năng khiến bệnh nhân hoan hỷ và tin tưởng rồi nhờ đó mà sẽ được vãng sanh Tịnh Độ.

10. Nếu gặp phải bệnh nhân hồn trí hôn mê không còn biết gì nữa, ban hộ niệm nên đứng bên cạnh trợ niệm hoặc đánh chuông mõ hết sức nhẹ nhàng, đừng cho tiếng xẳng và ồn, khiến gây nên trạng huống lộn xộn trong thần thức của bệnh nhân. Nếu như phút lâm chung kéo dài quá lâu, nên luân phiên tụng niệm, thế nào cho tiếng niệm Phật đừng [p. 80] dứt đoạn. Niệm đến khi nào bệnh nhân hết thở và toàn thể châu thân lạnh đều mới thôi.
a) Quand un malade est sur le point de quitter ce monde

Quand un fidèle est sur le point de quitter ce monde, les proches feront venir dans la maison une confrérie de prières. Si le malade bệnh est encore lucide, la confrérie recommandera aux proches de ne pas pleurer, d’éviter de parler des affaires familiales avec le mourant, pour lui éviter d’éprouver du regret. La confrérie aura à exhorter le malade en l’encourageant à de ne plus s’embarrasser des choses de cette vie, à se détacher de tout pour se concentrer sur le Bouddha et sur les prières. Il convient de lui parler du paradis, de l’inviter à tout quitter pour renaître dans la Terre de Félicité exceptionnelle du Bouddha. Quant aux souffrances actuelles du mourant, elles sont la rançon des mauvais actes accumulés dans les vies antérieures, aussi le mourant devra endurer cette épreuve avec patience.

Dans le cas où quelque chose le tourmente et qu’il n’arrive pas à s’en débarrasser, on cherchera d’autres solutions, comme de le conseiller, de l’encourager ; on pourra récapituler les bonnes actions qu’il a faites envers la religion et l’en féliciter, parce qu’il pourra grâce à elles être admis dans la « Terre pure » (Tịnh độ) où il sera heureux et en paix.
Si le mourant reste agité ou s’il est inconscient, la confrérie de prière se tiendra alors à côté de lui, on tintera la cloche doucement et on priera à voix basse pour ne pas perturber l’esprit du mourant. Si l’agonie se prolonge, on priera sans s’arrêter, à tour de rôle, [p. 80] jusqu’au dernier souffle du mourant et ensuite jusqu’au refroidissement total du corps.
b) Sau khi lâm chung :

11. Khi bệnh nhân đã hết thở rồi, ban hộ niệm vẫn tiếp tục niệm Phật và tuyệt đối không nên cho bà con khóc lóc. Cũng không nên đụng đến thi thể hoặc vội tắm rửa thay áo quần. Tránh đừng nên đụng chạm gây ra huyên náo hay nói to tiếng khiến cho vong giả kinh loạn.

12. Sở dĩ phải tuyệt đối giữ thanh tịnh là vì dù ngực hết thở, quả tim hết đập, nhưng thần thức (thức thứ 8) của người chết vẫn chưa lìa khỏi xác. Nếu xung quanh có tiếng khóc lóc hoặc ồn ào va chạm, thi thể còn cảm giác sẽ sanh lòng sân hận, rồi có thể vì đó mà bị đọa lạc. Kinh chép khi Vua A Kỳ Đạt chết, vì người giữ thây dùng quạt đuổi ruồi, rủi đụng nhằm mặt nhà Vua, khiến nhà Vua phẫn nộ, do đó nhà Vua bị đọa làm thân con rắn !

13. Vì những lẽ trên nên cần phải thận trọng trong giờ phút trước và sau khi lâm chung. Tốt hơn hết là nên luôn luôn có người ngồi bên cạnh tiếp tục niệm Phật không hở, khiến cho chánh niệm được liên tục. Nếu không làm được như vậy thì nên đuổi hết mèo chó, cấm hẳn người ra vào và đóng kín cửa phòng lại. Chí như muốn tắm rửa, thay quần áo và uốn nắn [p. 81] tay chân cho người chết để nhập liệm thì nên đợi sau tám tiếng đồng hồ mới chắc chắn không làm hại cho người chết.

14. Trong Duy Thức học có dạy rằng muốn biết một người chết sẽ thác sanh về thế giới nào, hãy xem thần thức người đó lìa khỏi xác tại điểm nào. Điểm mà thần thức xuất tức là điểm còn hơi nóng cuối cùng, sau khi toàn thể châu thân đã lạnh buốt. Bài kệ sau đây sẽ cho ta biết cảnh giới tương lai của người chết sắp đầu thai :

 
Đảnh Thánh, nhãn sanh Thiên,
Nhơn tâm, ngạ quỷ phúc,
Bàng sanh túc hạ hành,
Địa ngục khước để xuất.

15. Nghĩa là : Thần thức xuất ở đảnh đầu là sanh về cõi Thánh, xuất ở chặng con mắt thì sanh về cõi Trời, xuất ở trên chấn thủy thì sanh về cõi người, xuất ở dưới bụng thì sanh về cảnh giới ngạ quỷ, xuất ở đầu gối thì sanh về cảnh giới súc sanh, xuất ở dưới bàn chân thì sanh về cảnh giới địa ngục.

16. Vì thế, trong khi thần thức sắp rời khỏi xác, mà ví như sẽ được sanh về cõi trời thì chỗ còn nóng sau cùng là ngang khoảng con mắt. Nếu không khéo, để cho thi thể va chạm hoặc để cho tiếng ồn ào làm kinh động khiến thần thức tán loạn sanh phiền não, [p. 82] phải bị đọa lạc thì thật là oan uổng cho người chết biết chừng nào !

17. Thiết tha mong toàn thể tín đồ Phật tử hãy lưu tâm điểm nầy để cứu giúp nhau trong giờ phút lâm chung, giờ phút nghiêm trọng có ảnh hưởng cho cả một kiếp sau. Mong thay !
b) après le décès

La confrérie veillera à continuer de prier et à empêcher les proches de pleurer et aussi de toucher le cadavre en voulant le laver ou le changer de vêtement.

On évitera de faire du bruit, de parler à voix haute, afin de ne pas déranger l’esprit du défunt. On devra maintenir un calme complet : en effet, même si le cœur du défunt ne bat plus, son âme n’a pas quitté le corps et les pleurs, les lamentations risquent de susciter des remords chez le défunt qui l’empêcheront de s’extraire de son corps matériel.

Aussi est-il nécessaire d’être prudent avant et après la mort d’un proche. Il vaut mieux quelqu’un veiller à prier sans cesse. Si l’on ne peut pas le faire, on fermera la porte de la chambre mortuaire et on attendra pendant huit heures [P 81] après le décès avant de faire la toilette mortuaire et d’habiller le défunt.

Selon Duy Thức, on peut savoir dans quel monde le défunt renaîtra en fonction du thần thức (le dernier point du corps encore chaud) :
  • si c’est la tête, il renaîtra dans les terres des bodhisattva et des bouddha ;
  • à la hauteur des yeux, ce sera le ciel ;
  • au niveau de la poitrine, il renaîtra dans le monde des êtres humains ;
  • au niveau du ventre, dans le monde des esprits belliqueux ;
  • au niveau des genoux, dans le monde des animaux,
  • aux pieds, il renaîtra dans les mondes infernaux (Địa ngục).
c) Cứu độ thân trung ấm

18. Thân thể con người do năm uẩn : sắc, thọ, tưởng, hành, thức tạo thành. Năm uẩn lại cũng gọi là năm ấm. Vì thế thân thể hiện còn gọi là tiền ấm, sau khi chết rồi và đã thác sanh gọi là hậu ấm, nằm ở khoảng giữa tiền ấm và hậu ấm (chết rồi mà chưa đầu thai lại) gọi là trung ấm.

19. Thân trung ấm bắt đầu từ giây phút thức thứ tám mới lìa khỏi thể xác người chết. Theo Luận Câu Xá thì thân trung ấm của người ở dục giới lớn bằng em bé năm, sáu tuổi, nhanh sáng, và có sức thông đạt, có sức ký ức nhạy hơn chín phần, so với lúc sanh tiền.

20. Sau khi người chết, tuy thần thức ly khai thân xác chuyển thành thân trung ấm, nhưng thân trung ấm ấy trừ trường hợp quá dày phúc đức hay quá nhiều tội ác thì trong giây phút hoặc được sanh nhơn thiên hoặc bị đọa ác thú liền, kỳ dư trong các trường hợp bình thường thì thần thức vẫn còn loanh quanh lưu luyến bên cạnh thây cũ. Cho nên nếu [p. 83] quyến thuộc khóc lóc hoặc tắm rửa, thay quần áo cho người chết v.v…thần thức đều biết cả. Bấy giờ thần thức tưởng như mình còn sống nên nó vẫn đến hỏi việc nầy việc khác, nhưng ngặt vì không ai thấy nghe mà đáp lại, vì vậy vô cùng bực tức, sợ hãi, bối rối, rồi giận giữ bỏ ra đi. Vì thế đối với người chết rồi, thân thể tuy đã lạnh cứng, nhưng người sống không nên nói điều gì hay làm việc gì có tánh cách khêu gợi lòng tham, sân, si, khêu gợi sự luyến tiếc cho người chết. Như là người sắp chết thì chỉ nên thuyết pháp, an ủi, khuyến khích nhất tâm cầu nguyện vãng sanh Cực Lạc, nếu người ấy đã chết rồi thì nên tụng kinh niệm Phật cho thân trung ấm nghe.

21.Nếu người chết lúc sanh tiền chưa từng niệm Phật, trong giờ phút gần lâm chung, lòng không chốn nương tựa, thân không còn là chủ tể, hoàn cảnh thật là hết sức thê lương ảm đạm, trong giờ phút ấy, nếu được nghe một tiếng niệm Phật, một lời thuyết pháp, người chết nhờ nhất niệm đó mà có thể vãng sanh Tịnh độ. Cho nên đối với vong nhân, không kể sanh tiền có tin Phật hay không tin Phật, có tu Tịnh độ hay không tu Tịnh độ, ban hộ niệm đều nhất thiết nên đến giúp đỡ và cao tiếng niệm danh hiệu Phật. Đó là phương pháp cứu độ thân trung ấm, hết sức hữu ích và cần phải thi hành.
c. sauvegarde du corps pendant l’état intermédiaire trung ấm

Le corps est fait de cinq composants (uẩn) : la forme sắc, la sensation thọ, la perception tưởng, l’impression hành, la conscience thức.
  • Tant que le corps est vivant, on l’appelle tiền ấm  ;
  • après la mort, lors de la naissance suivante, hậu ấm.
  • Entre ces deux états, c’est-à-dire pendant l’attente de la naissance suivante, le corps est appelé trung ấm, état intermédiaire. 



Pendant cette phase intermédiaire, la nouvelle naissance aura lieu exceptionnellement de manière immédiate si le défunt bénéficie des mérites de ses vertus – auquel cas il renaîtra immédiatement dans le monde des êtres humains – ou si le défunt a commis des crimes détestables – auquel cas il tombera instantanément dans les enfers.

La règle générale est cependant que l’esprit s’attarde autour de la dépouille mortelle pendant un certain temps. Par conséquent, si les proches se lamentent, s’ils font sa toilette ou s’ils l’habillent, l’esprit du défunt le perçoit, il se croit alors encore vivant. Il veut communiquer telle ou telle chose à son entourage, mais malheureusement, personne ne le voie ni ne l’entend. Énervé, apeuré, bouleversé, il quitte alors les lieux.

Il conviendra donc que les vivants s’interdisent des actes ou des paroles qui suggèrent l’envie, la colère, pour ne pas réveiller le regret chez le défunt dont le corps est en train de devenir raide. Comme au moment de l’agonie, il faudra prêcher, réconforter, exhorter à prier d’un cœur sincère pour la naissance dans le Royaume de Félicité du Bouddha.

Si le défunt n’a jamais invoqué le Bouddha de son vivant, au moment de mourir, il se retrouvera dans une situation pitoyable et éprouvante, sans aucun soutien alors qu’il est en train de perdre le contrôle de son corps. A cet instant, les psalmodies [de sûtra] et le sermon favorisent le transfert du défunt dans la Terre Pure [du Bouddha A DI DA]. C’est pourquoi la confrérie de prière doit venir à tout prix pour assister le défunt et prier le Bouddha, que le défunt de son vivant ait ou non eu foi dans le Bouddha et dans la Terre Pure : c’est une solution utile et nécessaire pour préserver le défunt pendant l’étape intermédiaire.

d) Cúng vong, cầu siêu [p. 84]

22. Đám tiệc nên tùy nghi phương tiện. Cốt nhất phải thanh tịnh. Không nên bày vẽ rộn ràng, sát sanh cúng tế một cách linh đình.

23. Trong kinh Phật dạy : “Thần thức người chết (thân trung ấm) chỉ dùng mùi hương làm thức ăn”. Vì thế ta chỉ nên dùng hương thơm, hoa đẹp, đèn sáng mà cúng là đủ. Nhất là tiếng niệm Phật và lời thuyết pháp thì rất bổ ích cho vong linh.

24.Sau khi đám tiệc xong xuôi, người con hiếu thảo nên vì vong linh làm các Phật sự để cầu siêu độ, bất luận vong giả đã vãng sanh hay chưa. Nếu đã vãng sanh rồi thì lại càng được tăng thêm phước huệ ; nếu chưa vãng sanh thì có thể nhờ đó mà túc nghiệp tiêu trừ, sanh về các cõi thiện. Đó là cách báo ân hay nhất của người con hiếu thảo.

25.Làm Phật sự thì không gì hơn là chuyên tụng kinh bái sám và trì niệm danh hiệu Phật. Có thể tự trong gia thuộc mình tụng lấy, hoặc mời đạo hữu tụng thêm. Các kinh thường tụng là Di Đà, Kim Cang hoặc Đại Bi Thần Chú v.v…Tụng niệm xong nên hồi hướng công đức cho vong giả làm tư lương cầu sanh Cực Lạc. Giá như trong gia thuộc mình không ai tụng kinh được thì chuyên niệm danh hiệu Phật cũng đủ rồi.

26.[p. 85] Còn như di sản của vong giả để lại, nếu là của cải thì nên đem làm việc phước thiện như : bố thí kẻ nghèo khó, giúp đỡ người tàn phế, cấp dưỡng cô nhi quả phụ hay phụ nữ sanh đẻ, hoặc làm chùa, chú tượng, ấn tống kinh điển, cúng dường chúng Tăng v.v…Làm các việc phước thiện ấy rồi đem công đức hồi hướng cầu cho vong giả tội diệt phước sanh, vãng sanh Cực Lạc. Như thế thì người còn kẻ mất, thảy đều được công đức lớn lao không thể kể xiết. Kinh Địa Tạng nói : “Trong khi vì người chết mà làm việc công đức thì người sống đã hưởng hết sáu phần mà người chết chỉ nhờ được một phần thôi”.
d) cérémonies pour le repos de l’âme du défunt.

[p. 84] La cérémonie devra être à la mesure des possibilités financières de la famille du défunt. La simplicité est essentielle. On évitera les dépenses fastueuses, les mises à mort d’animaux. Le parfum de l’encens, les fleurs, les bougies suffisent. L’âme du défunt sera bien plus touchée par le bourdonnement des prières et les sermons.

Après le repas d’adieu au défunt, le fils dressera par piété filiale l’autel en l’honneur du Bouddha pour le repos de l’âme du défunt. Les prières A Di Đà, Kim Cang ou Đại Bi Thần Chú sont les plus courantes. Si personne ne sait psalmodier les prières, on pourra se contenter de louer la gloire du Bouddha.

Il sera possible d’utiliser les biens terrestres du défunt pour des œuvres caritatives, ou pour la restauration de pagodes. Le livre Địa Tang dit à ce sujet : les vivants bénéficient des bienfaits effectués au nom du défunt pour six parts, tandis que le défunt ne bénéficie seulement pour une part.

[1celle de l’Église bouddhiste du Viet Nam (EBV), à distinguer de celle appelée l’Église bouddhiste unie du Viet Nam (EBUV) non reconnue par l’État vietnamien

[2Merci à Hông pour avoir transcris le texte vietnamien, et pour m’avoir signalé des sites liés à ce sujet :

en vietnamien : http://www.quangduc.com/tinhdo/100tinhdo-3.html
Et aussi en anglais : http://www.quangduc.com/English/pureland/13pureland-3.html.

[3Merci à Nhon et Jérôme pour la traduction dans les grandes lignes du texte vietnamien : ils ont accepté de prendre ce risque en n’étant pas des experts de la langue bouddhiste vietnamienne : encore merci


Accueil | Contact | Plan du site | | Statistiques du site | Visiteurs : 571 / 85427

Suivre la vie du site fr  Suivre la vie du site Quand le bouddhiste parle l’homme  Suivre la vie du site La Terre Pure du Bouddha Amida   ?

Site réalisé avec SPIP 3.1.0 + AHUNTSIC

Creative Commons License